Nhiều người biết đến việc trả nợ Tào Quan nhưng lại không hiểu được nguồn gốc của việc này là như thế nào... ... Hãy cùng dichvutamlinh.com tìm hiểu nhé! Mỗi người sống trên dương thế thì tiền kiếp của người ta có không ít lỗi lầm, trong đó có việc đong đầy bán vơi, vì thế nợ ần tiền kiếp là không thể không có. Căn cứ theo Lục thập hoa giáp mà có các Ty Quan cai quản việc nợ nần này. Thường thì khi làm ăn gặp vận xui, tình duyên lận đận, hoặc có điều kiện thì người ta làm lễ trả nợ Tào quan. Theo Tam giáo – Lục độ thì trả nợ tào quan còn có tên là Khoa Tào Quan hoặc Điền Hoàn Thiên Khố, tức là trả nợ vào kho Trời. Phần nợ chính để trả nợ thường là: Kinh Thọ Sinh và Tiền Thiên Khố.Thiếu những thứ này thì không thể làm lễ trả nợ được. Lưu ý: Người có nợ không thể tự trả nợ mà phải nhờ đến những hàng đã thọ thông tứ phủ như: Điện chủ thanh đồng. Pháp sư, hòa thượng. Hàng Bật sô trờ lên. Bời vì trong khi làm lễ phải dùng đế một số khế ấn mà người chưa được thụ giới không được phép làm. Trả nợ tào quan là một nghi thức đơn giản nhưng không thể làm tùy tiện được. Những người không đủ công đức mà tùy tiện làm sẽ bị báo ứng nhãn tiền, hậu quả là không thể lường. Tào Quan nghĩa là Tiền ở nơi địa phủ, việc trả nợ Tào Quan là trả nợ tiền ở nơi địa phủ. Nơi địa phủ có Ngân Hàng Địa Phủ, trả nợ Tào Quan chính là việc trả nợ Ngân Hàng Địa Phủ. Ngân Hàng Địa Phủ có cả thảy 36 kho. Người có trách nhiệm cai quản Ngân Hàng Địa Phủ là Ngài ” Thượng Án Giám Sát Ngân Hàng Địa Phủ Tào Quan”. Theo quy định của Thiên giới (Thiên Quy) những người sau khi mãn số quy tiên, thì vong linh sẽ thoát ra khỏi cơ thể đi vào cõi Tâm Linh là Thế Giới Vô Hình riêng biệt. Các Vong linh được cấp tên hiệu, được xét duyệt cho đi học, tu tập trong cõi này. Theo đó sẽ được Ngân Hàng Địa Phủ cấp phát sách vở (Kinh) và tiền ( tiền Tào Quan) để ăn uống, sinh hoạt, mua bán, trao đổi…vv. Số tiền và sách vở nói trên được cấp phát tạm thời hoặc gọi là cho vay theo như quy định ở Lục Thập Hoa Giáp ( áp dụng cho cả nam và nữ ). Ở đây nói thêm rằng : Mỗi một độ tuổi được quy định số tiền Tào Quan và kinh sách riêng, giống như trên trần gian mỗi nhóm tuổi là một cấp học nhất định. Chẳng hạn những học sinh độ tuổi 9 tuổi thì học lớp 4, 10 tuổi học lớp 5 ….Mỗi lớp có sách vở học tập khác nhau, tiền đóng học hành chi phí xây dựng trường lớp cũng khác nhau. Nếu việc tu tập của vong linh nếu có sự tiến bộ, thành tựu, đắc quả, thì vong tiếp tục được đi lên cảnh giới cao hơn, không cần phải luân hồi tái sanh vào cõi Nhân làm người. Khi đó thì số tiền cấp phát nói trên coi như được xóa nợ. Nếu việc tu tập của vong linh còn chưa tiến bộ, chưa thể đắc đạo do tiền kiếp nghiệp chướng còn nặng nề, oan gia trái chủ còn sâu đậm, thì theo Định nghiệp và Nhân quả báo ứng, phải chuyển nghiệp vào cõi Nhân để tái sanh làm người sửa chữa sai lầm, khuyết điểm. Ở kiếp người thì số kinh phí được cấp phát tạm thời như đã nói trên (Tiền, Kinh sách) con người phải hoàn trả lại, là một điều kiện bắt buộc. Cho nên hầu như người nào cũng có nợ Tào Quan. Tiền Tào Quan sau khi trả xong rồi cũng không hoàn toàn có nghĩa là người đã trả nợ sẽ hanh thông trong công việc buôn bán kinh doanh, tiền bạc khởi sắc, có thể làm giàu. Đây còn phụ thuộc nghiệp quả tiền kiếp. Nếu trong tiền kiếp là kẻ ác độc, bất lương, trộm cắp, giết người…. thì vẫn phải nhận lãnh cái nghiệp đó phải trả. Nhưng cũng tùy trường hợp nợ phải trả và không phải trả. Ví dụ : – Người thuộc con nhà Tứ Phủ (trình đồng), Người tu hành (theo đạo Phật hoặc đạo khác), vì cơ duyên nào đó vẫn được tiếp tục tu tập trên cõi trần, nên không phải trả nợ Tào Quan. – Người Nợ mã Tứ Phủ, người Tiễn Căn và các trường hợp khác, đều phải trả nợ vì...
11/05/2023
Đọc thêm »Xem tuổi để trả nợ tào quan! Khi làm lễ trả nợ tào quan, mỗi một độ tuổi được quy định số tiền Tào Quan và kinh sách riêng, giống như trên trần gian mỗi nhóm tuổi là một cấp học nhất định. Vậy số tiền tào quan và kinh sách cần trả cho từng tuổi được tính như thế nào? ... Hãy cùng dichvutamlinh.com tìm hiểu Vì sao phải trả nợ tào quan? Người xưa cho rằng theo quy định của Thiên Quy - Thiên Giới, sau khi người trên trần mãn số và quy tiên thì việc đầu tiên mà các vong linh đó chính là thoát ra khỏi cơ thể xác thịt và tiến vào cõi tâm linh - hay cũng chính là thế giới vô hình riêng biệt. Mỗi vong linh khi chuyển hóa sẽ được đặt một tên hiệu và xét duyệt để đi tu tập tại cõi này. Sau đó dưới Ngân Hàng Địa Phủ sẽ cấp vở (Kinh) và tiền (tiền tào quan) để vong linh sinh hoạt và trao đổi. Và trong thời gian tu tập đó của mỗi vong linh nếu có thành tựu, sự tiến bộ hay đắc quả thì những vong linh đó sẽ được lên đến cảnh giới cao hơn nữa và sẽ được miễn vào luân hồi tái sinh. Lúc đó số tiền quan tào được cấp lúc ban đầu sẽ được xóa bỏ, coi như vong linh đó không phải trợ nợ số tiền đó. Còn ngược lại, khi việc tu tập bị trễ nải, không có sự tiến bộ do chính tiền kiếp của người đó vướng nhiều nghiệp chướng, oan gia trái chủ nặng nề thì sẽ phải chuyển vào cõi Nhân để tái sinh để sửa chữa lại những lầm lỗi đó. Và số tiền quan tào sẽ phải được hoàn trả một cách bắt buộc và chính vì thế hầu như người nào cùng sẽ vướng nợ tào quan nhưng chỉ khác đó là ít hay nhiều. Tuy nhiên việc trả nợ tào quan khi được hoàn trả lại số tiền những không có nghĩa là việc buôn bán, kinh doanh, sự nghiệp có thể khởi sắc hay tiến bộ lên được. Đó còn phụ thuộc vào một phần nghiệp quả người đó đã làm tại kiếp trước ra sao. Nếu trong quá khứ tiền kiếp họ từng làm điều ác hay những điều bất lương, trộm cắp, giết người thì sẽ phải nhận lại những nghiệp trả cho việc làm đó. Quy định trả nợ tào quan Dưới đây là những quy định trả nợ tào quan theo “Lục thập hoa giáp” chiếu theo sách cổ và tuổi nam - nữ dưới đây đều được tính như nhau: Giáp Tý: số tiền tào quan phải trả 2 vạn 3 - Kinh 30 quyển. Nộp trả tại kho số 3 - Tào quan tính danh tư quân, thọ 75 tuổi. Ất Sửu: số tiền tào quan phải trả 38 vạn - Kinh 54 quyển. Nộp trả tại kho số 30 - Tào quan cát điền tư quân. Thọ 80 tuổi Bính Dần: số tiền tào quan phải trả 6 vạn + Kinh 74 quyển. Nộp trả tại kho 13 - Tào Quan tính Mã tư quân. Thọ 78 tuổi. Đinh Mão: số tiền tào quan phải trả 2 vạn 3 nghìn + 11 quyển Kinh. Nộp trả tại kho 11 - Tào Quan tính hứa tư quân. Mậu Thìn: số tiền tào quan 2 vạn + Kinh 30 quyển. Nộp trả tại kho 11 - Tào Quan tính danh tư quân. Thọ 79 tuổi. Kỷ Tỵ: số tiền tào quan 7 vạn 3 nghìn + Kinh 28 quyển. Nộp trả tại kho 3 - Tào Quan tính Cao tư quân. Canh Ngọ: số tiền tào quan 10 vạn + Kinh 12 quyển. Nộp trả tại kho số 9 - Tào Quan tính Lý tư quân. Hình nhân 3 Tướng. Thọ 85 tuổi. Tân Mùi: số tiền tào quan 10 vạn 3 + Kinh 17 quyển. Nộp trả tại kho 10 - Tào Quan tính thường an tư quân. Hình nhân 2 Tướng nữ. Thọ 90 tuổi. Nhâm Thân: số tiền tào quan 4 vạn 2 + Kinh 11 cuốn. Nộp trả tại kho 16 - Tào Quan tính phả tư quân. Thọ 74 hoặc 89 tuổi. Quý Dậu: số tiền tào quan 5 vạn 2 + Kinh 5 quyển + 3 cây cột chùa bằng giấy. Nộp trả tại kho số 1 - Tào Quan tính Thành tư quân. Giáp Tuất: số tiền tào quan 5 vạn + Kinh 6 cuốn + 3 bộ xà chùa . Nộp tại kho 10 Tào quan tính Quyền tư quân- Thọ 91 tuổi. Ất Hợi: số tiền tào quan 4 vạn 8 + Kinh 130 cuốn . Nộp tại kho số 5 Tào quan tính Duyệt tư quân. Thọ 69 hoặc 79 tuổi. Bính Tý: số tiền tào quan 2 vạn 4 + Kinh 27 cuốn + 3 bộ nóc chùa . Nộp tại kho số...
11/05/2023
Đọc thêm »Dân tộc Việt Nam ta coi “đạo hiếu” là tiêu chuẩn hàng đầu thể hiện trong đạo làm người. Nghi thức tang lễ của người Việt nổi bật có lễ cúng 49 ngày, 100 ngày và giỗ đầu. Mỗi lễ này, con cháu đều chuẩn bị đồ cúng và đốt vàng mã tống tiễn đủ đầy. Trong văn hóa thờ cúng của người Việt có tục cúng 49 ngày, 100 ngày và làm giỗ đầu cho người đã mất khá long trọng, mỗi buổi đều chuẩn bị lễ cúng và vàng mã đầy đủ. Nhưng ít ai hiểu được, cụ thể nguồn gốc và ý nghĩa của từng ngày lễ này trong văn hóa thờ cúng tổ tiên của chúng ta ra sao. Và lí do gì mà ngoài những ngày cúng lễ này, vào ngày rằm quan trọng hay cuối năm, người Việt ta lại hay đốt vàng mã. Để giải thích cụ thể, chúng ta nên tìm hiểu và định nghĩa từng lễ cúng giỗ cho người đã mất trong nội dung dưới đây để từ đó có câu trả lời chính xác cho những câu hỏi trên: Theo Thọ mai gia lễ thì lễ chung thất (49 ngày) cứ đúng ngày qui định trong gia lễ mà làm, không có sự dịch chuyển tùy tiện theo lời thầy lễ hay thầy bói. Chỉ trừ ngày làm lễ an táng và ngày làm lễ trừ phục (hết tang) trong gia lễ có chọn ngày lành. Lễ chung thất (49 ngày) trong văn hóa thờ cúng của người Việt là gì? Người ta không ai có thể chọn ngày mất vậy nên từ xưa đến nay, hàng năm cứ đến ngày mất thì gia quyến làm giỗ. Dù cho có những năm, ngày đó rất xấu, có cả trùng phục, trùng tang, sát chủ, quả tủ, cô thần… Theo gia lễ, các dịp lễ chung thất, lễ tốt khốc (100 ngày), tiểu tường (giỗ đầu), đại tường (giỗ đoạn) cứ theo đúng ngày mà làm lễ. Con cháu ở xa nhớ ngày về làm lễ, thân nhân ở nơi khác sắm sửa lễ đúng ngày tới dự. Khi ấy, nếu vì chọn ngày đẹp để làm lễ, chẳng lẽ người thân tới nơi thấy hương lạnh khói tàn, gạt nước mắt ra về hay sao? Hoặc chủ nhà sự báo lại rằng, theo lời thầy lễ, đã lễ xong xuôi hay đợi thêm vài ngày nữa, như vậy liệu có được chăng? Cần lưu ý tang tế theo ngày định sẵn, thân bằng cố hữu ai lưu luyến đến thăm viếng, không đợi thiệp mời như lễ mừng, lễ cưới, không có chuyện “hữu thỉnh hữu lai, vô thỉnh bất đáo” (mời thì đến, không thì thôi). Lễ cúng cơm 100 ngày trong văn hóa thờ cúng của người Việt là gì? Trong cuốn “101 câu hỏi về nghi lễ thờ cúng tổ tiên” (Nhà xuất bản Thời đại), Đại đức Thích Minh Nghiêm giải thích khá dễ hiểu về lễ cúng 100 ngày như sau: Gia đình Việt Nam nhà nào cũng vậy, mỗi ngày có hai bữa cơm là giờ phút đầm ấm nhất. Trong nhà có người về muộn, mọi người cũng cố chờ về ăn cơm một lúc cho vui vẻ, đầm ấm. Con cháu cầm bát cơm lên, trước hết mời ông bà, cha mẹ, chờ ông bà, cha mẹ rồi mới bắt đầu dám ăn. Có nơi xới bát cơm lần thứ hai còn mời nữa. Nếu có khách, trước khi buông bát đũa đứng dậy còn phải xin phép và mời khách tiếp tục xơi cơm. Cuộc sống gia đình đang vui vẻ, êm đẹp như vậy, vắng mặt trong bữa cơm còn nhắc huống chi một thành viên trong gia đình mãi mãi đi xa. Do đó, trước bữa ăn, người thân dâng lên bàn thờ một bát cơm úp, một vài món ăn bình thường, nhà ăn thứ gì cúng thứ ấy, thường là thanh đạm không đòi hỏi cầu kì. Nhà nghèo thì lưng cơm, đĩa muối cũng xong. Thắp hương xong, dựng đôi đũa vào giữa bát cơm, có rượu thì rót chén rượu. Khấn vài xong cũng rót chén nước. Thờ cúng vong linh cũng giống như đang sống, cũng là để thỏa nguyện tâm linh: “Lấy câu vận mệnh khuây dần nhớ thương”. Nhưng tại sao lại cúng 100 ngày? Tập tục này cũng tùy địa phương, có nơi chỉ cúng 49 ngày (tức là lễ chung thất). Theo thuyết của Phật giáo, qua 7 lần phán xét, mỗi lần 7 ngày đi qua một điện ở âm ti (tức một tuần nhưng không phải tuần lễ theo dương lịch), sau 7 tuần vong hồn sẽ siêu thoát. Có nơi cúng hết 100 ngày (tức là lễ tốt khốc, nghĩa là thôi khóc). Theo giải thích của các cụ ngày xưa thì thời gian này âm hồn vẫn...
09/05/2023
Đọc thêm »Trả Nợ Tào Quan Như Thế Nào Đúng Nhiều người biết đến việc trả nợ Tào Quan nhưng lại không hiểu được nguồn gốc của việc này là như thế nào... ... Hãy cùng dichvutamlinh.com tìm hiểu nhé! Mỗi người sống trên dương thế thì tiền kiếp của người ta có không ít lỗi lầm, trong đó có việc đong đầy bán vơi, vì thế nợ ần tiền kiếp là không thể không có. Căn cứ theo Lục thập hoa giáp mà có các Ty Quan cai quản việc nợ nần này. Thường thì khi làm ăn gặp vận xui, tình duyên lận đận, hoặc có điều kiện thì người ta làm lễ trả nợ Tào quan. Theo Tam giáo – Lục độ thì trả nợ tào quan còn có tên là Khoa Tào Quan hoặc Điền Hoàn Thiên Khố, tức là trả nợ vào kho Trời. Phần nợ chính để trả nợ thường là: Kinh Thọ Sinh và Tiền Thiên Khố.Thiếu những thứ này thì không thể làm lễ trả nợ được. Lưu ý: Người có nợ không thể tự trả nợ mà phải nhờ đến những hàng đã thọ thông tứ phủ như: Điện chủ thanh đồng. Pháp sư, hòa thượng. Hàng Bật sô trờ lên. Bời vì trong khi làm lễ phải dùng đế một số khế ấn mà người chưa được thụ giới không được phép làm. Trả nợ tào quan là một nghi thức đơn giản nhưng không thể làm tùy tiện được. Những người không đủ công đức mà tùy tiện làm sẽ bị báo ứng nhãn tiền, hậu quả là không thể lường. Tào Quan nghĩa là Tiền ở nơi địa phủ, việc trả nợ Tào Quan là trả nợ tiền ở nơi địa phủ. Nơi địa phủ có Ngân Hàng Địa Phủ, trả nợ Tào Quan chính là việc trả nợ Ngân Hàng Địa Phủ. Ngân Hàng Địa Phủ có cả thảy 36 kho. Người có trách nhiệm cai quản Ngân Hàng Địa Phủ là Ngài ” Thượng Án Giám Sát Ngân Hàng Địa Phủ Tào Quan”. Theo quy định của Thiên giới (Thiên Quy) những người sau khi mãn số quy tiên, thì vong linh sẽ thoát ra khỏi cơ thể đi vào cõi Tâm Linh là Thế Giới Vô Hình riêng biệt. Các Vong linh được cấp tên hiệu, được xét duyệt cho đi học, tu tập trong cõi này. Theo đó sẽ được Ngân Hàng Địa Phủ cấp phát sách vở (Kinh) và tiền ( tiền Tào Quan) để ăn uống, sinh hoạt, mua bán, trao đổi…vv. Số tiền và sách vở nói trên được cấp phát tạm thời hoặc gọi là cho vay theo như quy định ở Lục Thập Hoa Giáp ( áp dụng cho cả nam và nữ ). Ở đây nói thêm rằng : Mỗi một độ tuổi được quy định số tiền Tào Quan và kinh sách riêng, giống như trên trần gian mỗi nhóm tuổi là một cấp học nhất định. Chẳng hạn những học sinh độ tuổi 9 tuổi thì học lớp 4, 10 tuổi học lớp 5 ….Mỗi lớp có sách vở học tập khác nhau, tiền đóng học hành chi phí xây dựng trường lớp cũng khác nhau. Nếu việc tu tập của vong linh nếu có sự tiến bộ, thành tựu, đắc quả, thì vong tiếp tục được đi lên cảnh giới cao hơn, không cần phải luân hồi tái sanh vào cõi Nhân làm người. Khi đó thì số tiền cấp phát nói trên coi như được xóa nợ. Nếu việc tu tập của vong linh còn chưa tiến bộ, chưa thể đắc đạo do tiền kiếp nghiệp chướng còn nặng nề, oan gia trái chủ còn sâu đậm, thì theo Định nghiệp và Nhân quả báo ứng, phải chuyển nghiệp vào cõi Nhân để tái sanh làm người sửa chữa sai lầm, khuyết điểm. Ở kiếp người thì số kinh phí được cấp phát tạm thời như đã nói trên (Tiền, Kinh sách) con người phải hoàn trả lại, là một điều kiện bắt buộc. Cho nên hầu như người nào cũng có nợ Tào Quan. Tiền Tào Quan sau khi trả xong rồi cũng không hoàn toàn có nghĩa là người đã trả nợ sẽ hanh thông trong công việc buôn bán kinh doanh, tiền bạc khởi sắc, có thể làm giàu. Đây còn phụ thuộc nghiệp quả tiền kiếp. Nếu trong tiền kiếp là kẻ ác độc, bất lương, trộm cắp, giết người…. thì vẫn phải nhận lãnh cái nghiệp đó phải trả. Nhưng cũng tùy trường hợp nợ phải trả và không phải trả. Ví dụ : – Người thuộc con nhà Tứ Phủ (trình đồng), Người tu hành (theo đạo Phật hoặc đạo khác), vì cơ duyên nào đó vẫn được tiếp tục tu tập trên cõi trần, nên không phải trả nợ Tào Quan. – Người Nợ mã Tứ Phủ, người Tiễn Căn và các trường...
08/05/2023
Đọc thêm »Xem tuổi để trả nợ tào quan! Khi làm lễ trả nợ tào quan, mỗi một độ tuổi được quy định số tiền Tào Quan và kinh sách riêng, giống như trên trần gian mỗi nhóm tuổi là một cấp học nhất định. Vậy số tiền tào quan và kinh sách cần trả cho từng tuổi được tính như thế nào? ... Hãy cùng dichvutamlinh.com tìm hiểu Vì sao phải trả nợ tào quan? Người xưa cho rằng Theo quy định của Thiên Quy - Thiên Giới, sau khi người trên trần mãn số và quy tiên thì việc đầu tiên mà các vong linh đó chính là thoát ra khỏi cơ thể xác thịt và tiến vào cõi tâm linh - hay cũng chính là thế giới vô hình riêng biệt. Mỗi vong linh khi chuyển hóa sẽ được đặt một tên hiệu và xét duyệt để đi tu tập tại cõi này. Sau đó dưới Ngân Hàng Địa Phủ sẽ cấp vở (Kinh) và tiền (tiền tào quan) để vong linh sinh hoạt và trao đổi. Và trong thời gian tu tập đó của mỗi vong linh nếu có thành tựu, sự tiến bộ hay đắc quả thì những vong linh đó sẽ được lên đến cảnh giới cao hơn nữa và sẽ được miễn vào luân hồi tái sinh. Lúc đó số tiền quan tào được cấp lúc ban đầu sẽ được xóa bỏ, coi như vong linh đó không phải trợ nợ số tiền đó. Còn ngược lại, khi việc tu tập bị trễ nải, không có sự tiến bộ do chính tiền kiếp của người đó vướng nhiều nghiệp chướng, oan gia trái chủ nặng nề thì sẽ phải chuyển vào cõi Nhân để tái sinh để sửa chữa lại những lầm lỗi đó. Và số tiền quan tào sẽ phải được hoàn trả một cách bắt buộc và chính vì thế hầu như người nào cùng sẽ vướng nợ tào quan nhưng chỉ khác đó là ít hay nhiều. Tuy nhiên việc trả nợ tào quan khi được hoàn trả lại số tiền những không có nghĩa là việc buôn bán, kinh doanh, sự nghiệp có thể khởi sắc hay tiến bộ lên được. Đó còn phụ thuộc vào một phần nghiệp quả người đó đã làm tại kiếp trước ra sao. Nếu trong quá khứ tiền kiếp họ từng làm điều ác hay những điều bất lương, trộm cắp, giết người thì sẽ phải nhận lại những nghiệp trả cho việc làm đó. Quy định trả nợ tào quan Dưới đây là những quy định trả nợ tào quan theo “Lục thập hoa giáp” chiếu theo sách cổ và tuổi nam - nữ dưới đây đều được tính như nhau: Giáp Tý: số tiền tào quan phải trả 2 vạn 3 - Kinh 30 quyển. Nộp trả tại kho số 3 - Tào quan tính danh tư quân, thọ 75 tuổi. Ất Sửu: số tiền tào quan phải trả 38 vạn - Kinh 54 quyển. Nộp trả tại kho số 30 - Tào quan cát điền tư quân. Thọ 80 tuổi Bính Dần: số tiền tào quan phải trả 6 vạn + Kinh 74 quyển. Nộp trả tại kho 13 - Tào Quan tính Mã tư quân. Thọ 78 tuổi. Đinh Mão: số tiền tào quan phải trả 2 vạn 3 nghìn + 11 quyển Kinh. Nộp trả tại kho 11 - Tào Quan tính hứa tư quân. Mậu Thìn: số tiền tào quan 2 vạn + Kinh 30 quyển. Nộp trả tại kho 11 - Tào Quan tính danh tư quân. Thọ 79 tuổi. Kỷ Tỵ: số tiền tào quan 7 vạn 3 nghìn + Kinh 28 quyển. Nộp trả tại kho 3 - Tào Quan tính Cao tư quân. Canh Ngọ: số tiền tào quan 10 vạn + Kinh 12 quyển. Nộp trả tại kho số 9 - Tào Quan tính Lý tư quân. Hình nhân 3 Tướng. Thọ 85 tuổi. Tân Mùi: số tiền tào quan 10 vạn 3 + Kinh 17 quyển. Nộp trả tại kho 10 - Tào Quan tính thường an tư quân. Hình nhân 2 Tướng nữ. Thọ 90 tuổi. Nhâm Thân: số tiền tào quan 4 vạn 2 + Kinh 11 cuốn. Nộp trả tại kho 16 - Tào Quan tính phả tư quân. Thọ 74 hoặc 89 tuổi. Quý Dậu: số tiền tào quan 5 vạn 2 + Kinh 5 quyển + 3 cây cột chùa bằng giấy. Nộp trả tại kho số 1 - Tào Quan tính Thành tư quân. Giáp Tuất: số tiền tào quan 5 vạn + Kinh 6 cuốn + 3 bộ xà chùa . Nộp tại kho 10 Tào quan tính Quyền tư quân- Thọ 91 tuổi. Ất Hợi: số tiền tào quan 4 vạn 8 + Kinh 130 cuốn . Nộp tại kho số 5 Tào quan tính Duyệt tư quân. Thọ 69 hoặc 79 tuổi. Bính Tý: số tiền tào quan 2 vạn 4 +...
08/05/2023
Đọc thêm »Vàng Mã Cúng 49 Ngày Và Những Điều Cần Lưu Ý Cúng 49 ngày là một thủ tục hậu tang lễ cực kỳ quan trọng và không được thiếu sót, bởi lễ cúng 49 ngày có ảnh hưởng rất lớn không chỉ đến gia đình mà còn tác động đến quá trình thọ nghiệp báo và luân hồi của người đã khuất ở thế giới bên kia. Do đó, việc cúng 49 ngày cần được tiến hành một cách chỉn chu và trang nghiêm, từ khâu chuẩn bị cho đến khi tiến hành, kể cả việc chuẩn bị vàng mã cúng. Bài viết dưới đây cung cấp đến quý độc giả thông tin về vàng mã cúng 49 ngày và những điều cần biết giúp quý độc giả có nhu cầu cân nhắc chuẩn bị. 1. Cúng 49 ngày là gì? Cúng 49 ngày là lễ cúng cho người đã khuất được diễn ra vào hạ tuần thứ 7 tính từ ngày người mất. Cụ thể, tính từ ngày mất, cứ cuối mỗi tuần gia đình cúng cho người đã mất một mâm cơm, gọi là Sơ thất, cuối tuần thứ 2 tính từ ngày mất thì cúng Nhị thất, tương tự tuần thứ 3 cúng Tam thất… cứ thế cho đến tuần thứ 7 thì cúng Chung thất, hay còn gọi là cúng 49 ngày. Ngày nay, cuối mỗi tuần gia đình thường không cúng Sơ thất, Nhị thất, mà gộp thành cúng cơm hằng ngày cho đến ngày thứ 49 thì cúng 49 ngày. Việc cúng 49 ngày xuất phát từ quan niệm, tín ngưỡng cho rằng, cứ hết mỗi tuần thì người đã khuất đi hết 1 cửa ngục ở Địa ngục, cú thế hết tuần thứ 7 thì qua 7 ngục, nên cúng 49 ngày cầu siêu cho người đã khuất được vãng sanh hoặc đầu thai làm người. Lại có quan niệm cho rằng, 49 ngày là thời điểm người đã khuất còn ở thể thân trung ấm, vẫn chưa hoàn toàn ý thức được mình đã chết, chưa thụ hưởng được các đồ cúng trái, do đó trong 49 ngày gia đình phải thường xuyên tạo nghiệp tốt lành, hồi hướng công đức cho người đã khuất để họ được cứu vớt, đến hết 49 ngày sẽ chuyển thế, đi thọ nghiệp báo sẽ được ân giảm hình phạt. Việc cúng 49 ngày lúc này sẽ là lễ cúng cầu cho người đã khuất được vãng sanh siêu độ, nhanh chóng chuyển sinh. Lễ cúng 49 ngày thường được tổ chức rất trọng thể, tiếp theo là đến lễ Tốt khốc (100 ngày) bởi tính chất quan trọng của nó. Trong ngày này, gia đình ngoài việc chuẩn bị mâm lễ trọng thể, chu toàn sẽ còn mời cả thầy về đọc kinh siêu độ. Mọi người trong gia tộc sẽ tụ họp về đọc kinh đồng lòng cầu siêu cho người mất. Nếu người đã mất chẳng may mất ngoài đường (do tai nạn…) thì gia đình tổ chức cúng 49 ngày ở nơi người đã mất gặp nạn qua đời. 2. Đồ lễ cúng 49 ngày và vàng mã Combo Cúng 49 Ngày Các đồ lễ cúng 49 ngày thường gồm các món sau: – Mâm ngũ quả – Hoa tươi – Nhang đèn – Đồ lễ cúng, thường là đồ chay bởi trong thời gian này vẫn phải thường xuyên tạo phước, tránh tích nghiệp. Gia đình do đó thường cúng đồ chay để tránh phạm nghiệp sát sinh, gây ảnh hưởng đến quá trình chuyển sinh của người đã khuất. Các món cúng thường có món xào, món canh, bánh trái, chè xôi trà rượu tươm tất đầy đủ. – Vàng mã. Nếu nhà có nhiều ban thờ thì các ban thờ khác cũng phải đầy đủ đồ cúng, tuy không nhiều như cúng người đã khuất, song cũng cần có đĩa trái cây, hoa tươi, nhang đèn. Khi đó ban cúng người đã khuất nên được bày ở một khoảng riêng, hoặc đem di ảnh người đã khuất xê dịch lên phía trước một ít. 3. Vàng mã cúng 49 ngày Mẫu Biệt thự vàng mã làm theo yêu cầu Vàng mã là một phần không thể thiếu của bất kỳ lễ cúng tâm linh nào, đặc biệt là các lễ cúng liên quan đến người thân đã khuất. Đốt vàng mã là một hình thức sưởi ấm vong linh, cũng là một cách để tạo phước cho người đã khuất, giúp họ nhận được công đức và lộ phí khi qua thế giới bên kia – người Việt ta vẫn quan niệm “trần sao âm vậy” – người đã khuất có tiền bạc để trao đổi, mua bán hay thậm chí là đi đường. Lễ cúng 49 ngày là một nghi thức quan trọng, do đó không thể thiếu các loại vàng mã. Vàng mã cúng 49 ngày thường bao gồm: – Đồ trang...
06/05/2023
Đọc thêm »Vàng Mã. Tục Đốt Vàng Mã Như Thế Nào Đúng? Đốt vàng mã được xem là một phong tục tập quán đã xuất hiện từ rất lâu đời của người dân Việt Nam. Vậy nguồn gốc của tục lệ này là đâu? Nó mang ý nghĩa gì và cách đốt vàng, mã như thế nào là đúng nhất? Bài viết sau Dịch Vụ Tâm Linh sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tục lệ này. 1. Tìm hiểu về vàng mã Vàng mã được gọi chung đó là những loại đồ dùng bằng giấy được sử dụng để cúng bái và đốt cho người đã mất. Những món đồ này rất dễ cháy và sau khi thực hiện các nghi lễ cúng bái xong sẽ được mang đi đốt hay còn gọi là hoá vàng cho người âm. Vàng mã được xem như một nét đặc trưng riêng biệt cho nền văn hoá tâm linh của người dân Việt Nam và các quốc gia Á Đông hiện nay. Người Việt Nam đã quan niệm rằng khi đốt vàng mã người thân của mình đã khuất ở thế giới bên kia sẽ được thụ hưởng và nhận lấy chúng để làm công cụ thanh toán và trao đổi dưới âm phủ. Các loại vàng mã ngày nay không đơn thuần chỉ là tiền âm phủ mà nó còn được làm dưới dạng những món đồ dùng thường ngày của con người. Vàng mã là loại đồ cúng bằng giấy được sử dụng để cúng và hoá cho người đã mất 2. Tục đốt vàng mã xuất hiện như thế nào? Tìm hiểu về nguồn gốc của tục lệ này Nguồn gốc của tục đốt vàng mã là từ Trung Quốc và theo quá trình xâm lược, ảnh hưởng đã du nhập vào nên văn hoá Việt Nam. Khi đó người dân của nước ta đã tiếp thu và gìn giữ, phát triển nó như một nền văn hoá đặc sắc, riêng biệt được lưu truyền nhiều đời này. Mọi người khi đốt vàng mã thường luôn quan niệm rằng ở trên trần sao dưới âm sẽ vậy. Con người sau khi chết đi sang thế giới bên kia họ vẫn có các nhu cầu và sinh hoạt giống như đang còn sống. Vì thế người ở trên trần thế sẽ đốt nhiều vàng mã với mong muốn người thân đã mất của mình có được cuộc sống đầy đủ ở thế giới bên kia. Còn theo Phật Giáo đốt vàng mã không phải được bắt nguồn từ Đạo Phật. Đây là phong tục đã được truyền bá sang từ Trung Quốc. Lúc mới đầu vàng mã chỉ được sử dụng trong cung đình mà không được phổ biến với dân chúng. Tục lệ đốt vàng mã đã xuất hiện từ rất lâu đời tại Trung Quốc và được lưu truyền sang Việt Nam 3. Sự tích về tục đốt vàng mã Thời nhà Hạ, người dân Trung Hoa đã sử dụng đất sét để nặn thành mâm bát và sử dụng gỗ tre để làm các loai nhạc khí như đàn sáo, chuông khánh dùng trong chôn cất theo người chết. Tới thời nhà Chu, người dân đã đặt ra tục “Tuẫn Táng”, đây là phong tục mà khi nhà vua và quan lại chết đi thì sẽ đem chôn sống vợ con và bộ hạ của họ để có thể xuống dưới âm hầu hạ các ngài. Tục lệ này đã được loại bỏ ở thời nhà Hán. Tới năm 105 sau công nguyên ông Vương Dũ đã sáng chế ra giấy để làm vàng bạc và quần áo thay thế cho vàng bạc và quần áo thật khi làm tang lễ cho người mất. Lúc này phần đa người dân Trung Hoa cũng đã tỉnh ngộ và đã cùng nhau bỏ đi tục lệ đốt vàng mã. Điều này khiến cho những nhà làm nghề vàng mã bị thất nghiệp. Tục đốt vàng mã bằng giấy xuất hiện từ năm 105 sau công nguyên do ông Vương Dũ sáng chế ra Vương Luân là dòng dõi của Vương Dũ đã tìm ra các âm mưu để phục hưng lại nghề vàng mã này. Ông cho một người giả ốm nặng cách đó vài hôm rồi loan tin chết vì bệnh ra cho người dân biết. Cái xác giả kia sẽ được khâm liệm và cho vào quan tài có đục sẵn lỗ hổng để tiếp tế thức ăn và đồ uống. Khi hàng xóm tới thăm viếng đông đúc Vương Luân đã cùng với gia nhân và dòng họ của người đó mang tới rất nhiều đồ mã, có cả hình nhân thế mệnh ra để cúng bái. Họ thực hiện cúng lễ các quan thiên phủ, địa phủ và quan nhân phủ. Trong khi người dân đang đau xót khấn khứa thì quan tài bỗng...
06/05/2023
Đọc thêm »Giải đáp! Cúng 49 ngày trước có được không? “Cúng 49 ngày trước có được không?” là một câu hỏi được đa số gia quyến thắc mắc khi người thân của mình đã tạ thế. Trong bài viết này, Dịch Vụ Tâm Linh sẽ giải đáp một số câu hỏi liên quan đến nghi lễ cúng 49 ngày dành cho người đã khuất. Mời bạn cùng đón đọc! Ý nghĩa của tục cúng 49 ngày Cúng 49 ngày là gì? Cúng 49 ngày còn được biết đến với cái tên là chung thất hay lễ cúng giỗ mở đầu. Đây này là một trong những nghi thức quan trọng không thể bỏ qua trong trình tự tang lễ. Cúng 49 ngày còn được biết đến với cái tên là chung thất hay lễ cúng giỗ mở đầu Theo Phật Giáo, con người sau khi qua đời sẽ dựa vào phước phần đã tích lũy từ quá khứ để được trở về địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, atula hay nhân và thiên. Trong Kinh Địa Tạng có nói, sau khi người chết tròn 49 ngày, họ sẽ được tái sinh vào những cõi khác nhau. Và khoảng thời gian 49 ngày đó, họ chưa được siêu thoát mà sẽ chờ định tội tùy thuộc vào những gì đã làm khi còn sống. Nơi họ về cũng sẽ được phân chia theo những việc thiện và việc ác mà họ đã gây ra. Vì sao lại là 49 ngày? Con số 49 được lý giải như sau: Khi qua đời, vong linh của họ sẽ đi qua điện lớn ở âm ty và trải qua tổng cộng 7 lần phán xét, mỗi lần phán xét là 7 ngày, tổng cộng là 49 ngày. Sau khi phán xét xong, họ sẽ được tái sinh vào một cảnh giới tương ứng với nghiệp báo khi còn sống. Cũng có nhiều ý kiến cho rằng người chết có thể tái sinh trong ngay những tuần đầu, điều này phụ thuộc vào phúc đức và nhân duyên của họ. Chính vì lý do đó mà cúng 49 ngày được xem là một nghi thức quan trọng. Trong ngày này, tang gia sẽ làm lễ cầu siêu với mong muốn người thân được siêu thoát về cõi an lành. Ý nghĩa của tục cúng 49 ngày Trước khi giải đáp cho câu hỏi Cúng 49 ngày trước có được không, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu qua về ý nghĩa của nghi lễ này. Tục cúng 49 ngày là một nét đặc trưng trong truyền thống thờ cúng của người Việt. Đầu tiên, lễ cúng này được xem như hình thức tiễn người đã khuất sang thế giới bên kia. Vào ngày này, người thân sẽ bày tỏ nỗi tiếc thương cũng như gửi lời chúc tốt đẹp cho hành trình mới của vong linh đã khuất, giúp họ dễ dàng siêu thoát hơn. Lễ cúng 49 chính là buổi cầu siêu, giúp cho người đã khuất giảm bớt tội lỗi đã gây ra khi còn sống Thứ hai, lễ cúng 49 chính là buổi cầu siêu, giúp cho người đã khuất giảm bớt tội lỗi đã gây ra khi còn sống. Trong buổi lễ này, chúng ta sẽ hồi hướng người đã khuất đến những điều thiện lành, tốt đẹp để họ có thể đi về cõi an lành. Đồng thời, đây cũng là cách nhắc nhở người đã khuất nên rời ra thế tục, dục vọng và hướng về những điều tốt đẹp để tái sanh vào cảnh giới tốt lành. Cuối cùng, cúng 49 ngày chính là cách nhắc nhở người đã khuất cũng như tất cả những người còn sống rằng, không phải chết là hết, mà cái chết sẽ tạo nên một khởi đầu mới. Khi mất đi, linh hồn chúng ta sẽ rời khỏi phần hồn để tiếp tục đến với những cõi khác dựa trên nghiệp nhân đã gieo khi còn sống. Vì thế, nếu còn sống, chúng ta nên tích cực làm những điều tốt để kiếp sau được đầu thai vào cõi an lành hơn. Cúng 49 ngày trước có được không? Từ những nội dung đã chia sẻ bên trên, có thể thấy rằng cúng 49 ngày là một nghi thức vô cùng quan trọng và chúng ta nên tuân thủ để người đã khuất bắt đầu một hành trình mới một cách tốt đẹp hơn. Vậy, câu trả lời cho thắc mắc cúng 49 ngày trước có được không chính là không nên. Bạn nên thực hiện đúng thời gian, nghi thức và trình tự để buổi cúng 49 ngày, cũng là buổi cầu siêu được diễn ra suôn sẻ, tốt đẹp. Một số câu hỏi thường gặp khi cúng 49 ngày Bên cạnh câu hỏi “Cúng 49 ngày trước có được không?”, xoay quanh lễ cúng 49 ngày còn có nhiều thắc mắc...
06/05/2023
Đọc thêm »Nguồn gốc tục cúng cô hồn và lễ Vu Lan tháng 7 âm lịch Người ta tin rằng tháng 7 âm lịch là tháng "mở cửa mả", có rất nhiều quỷ đói lên quấy phá dương gian nên phải cúng đồ ăn cho chúng để quỷ khỏi quấy nhiễu. Đại đức Thích Nhật Thiện, ban trụ trì chùa Giác Ngộ (quận 10, TP HCM) cho biết, tục cúng cô hồn có nguồn gốc từ Trung Quốc. Phật tử Trung Hoa gọi lễ cúng này là "Phóng diệm khẩu", tức là cúng để bố thí và cầu nguyện cho loài quỷ đói miệng lửa. Nhưng dân gian thì hiểu rộng ra và nói trại đi thành "cúng cô hồn", tức là cúng thí cho những vong hồn vật vờ, không có ai là thân nhân trên trần gian cúng bái. Hai ngày lễ cúng lớn trong tháng 7 âm lịch là lễ Vu Lan và cúng cô hồn đều chứa đựng ý nghĩa nhân văn cao cả là đề cao việc báo hiếu và làm phúc bố thí. Ảnh: vanhoaphatgiao Tục cúng cô hồn có liên quan đến câu chuyện giữa ông A Nan Ðà (thường gọi tắt là A Nan) với một con quỷ miệng lửa (diệm khẩu). Một buổi tối, A Nan đang ngồi trong tịnh thất thì thấy một con ngạ quỷ thân thể khô gầy, cổ nhỏ mà dài, miệng nhả ra lửa bước vào. Quỷ cho biết rằng ba ngày sau, A Nan sẽ chết và sẽ luân hồi vào cõi ngạ quỷ miệng lửa, mặt cháy đen như nó. A Nan sợ quá, bèn nhờ quỷ bày cho phương cách tránh khỏi khổ đồ. Quỷ đói nói: “Ngày mai ông phải thí cho bọn ngạ quỷ chúng tôi mỗi đứa một hộc thức ăn, và soạn lễ cúng dường Tam Bảo thì ông sẽ được tăng thọ, còn tôi sẽ được sinh về cõi trên”. A Nan đem chuyện bạch với Ðức Phật. Đức Phật bèn cho bài chú gọi là “Cứu bạt diệm khẩu ngạ quỷ Ðà La Ni”. A Nan đem tụng trong lễ cúng và được thêm phúc thọ… Tục cúng cô hồn bắt nguồn từ sự tích này nên ngày nay người ta vẫn nói cúng cô hồn là Phóng diệm khẩu, với nghĩa gốc là “thả quỷ miệng lửa”. Về sau, lại được hiểu rộng thành các nghĩa khác như tha tội cho tất cả những người chết (xá tội vong nhân) hoặc cúng thí cho những vong hồn vật vờ (cô hồn). Tháng bảy Âm lịch còn gọi là tháng "xá tội vong nhân", tức là thời gian các vong hồn được thả tự do. Trong những ngày này, người dân thường lập đàn cầu siêu hoặc cúng thí (bố thí) thức ăn cho các cô hồn để mong họ phù hộ cho mình. Ở Trung Quốc, việc cúng cô hồn được thực hiện vào ngày 14 tháng 7 âm lịch, còn ở Việt Nam thời gian này kéo dài nguyên một tháng, không ấn định riêng ngày nào. Mặt khác dân gian còn gọi tháng bảy là "tháng cô hồn" không đem lại may mắn nên người ta thường tránh khởi sự làm ăn mua bán xây nhà trong thời gian này. Như vậy, trong tháng 7 âm lịch có hai lễ lớn: Vu Lan và cúng Cô hồn. Hai lễ này về cơ bản hoàn toàn khác nhau. Lễ Vu Lan gắn với tích về Mục Kiền Liên, đệ tử của Đức Phật, là một vị tôn giả tu luyện được nhiều phép thần thông. Vì tưởng nhớ mẹ nên một ngày nọ Mục Kiền Liên dùng đôi mắt thần nhìn xuống địa ngục, thấy mẹ là bà Thanh Đề bị Diêm Vương đày làm quỷ đói do kiếp trước gây nhiều nghiệp ác. Thương mẹ nên ông dùng phép thuật xuống địa ngục để mang cơm dâng cho người. Bà Thanh Đề do lâu ngày nhịn đói nên khi ăn đã dùng một tay che bát cơm của mình vì sợ các cô hồn khác đến tranh. Vì còn tính "tham sân si" nên khi bà đưa bát lên miệng, thức ăn đã hóa thành lửa đỏ không thể ăn được. Đau xót khi chứng kiến cảnh này, Kiền Liên cầu xin Đức Phật giúp mình cứu mẹ. Đức Phật dạy ông rằng một mình con không thể cứu được mẹ do ác nghiệp của bà quá nặng, chỉ còn cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong thành công. Vào ngày rằm tháng bảy, nhân lúc chư tăng mãn hạ (sau 3 tháng an cư kiết hạ) thì sửa một cái lễ đặt vào trong chiếc chậu để dâng cúng và thành khẩn cầu xin mới có thể cứu rỗi vong nhân khỏi địa ngục tăm tối. Mục Kiền Liên thành tâm làm theo lời Phật dạy, không những cứu được mẹ...
06/05/2023
Đọc thêm »Cách tính 49 ngày cho người mất để tổ chức buổi lễ cúng tiễn đưa linh hồn của người khuất xuống suối vàng sao cho chính xác và chuẩn phong tục, truyền thống của người Việt Nam. Việc hành lễ 49 ngày tính từ ngày mất hay ngày chôn là một câu hỏi khiến nhiều người đau đầu tìm lời giải. Bài viết sau đây, Đồ Cúng Tâm Linh sẽ giúp mọi người tìm ra lời giải cũng như tìm hiểu kỹ hơn về ngày lễ 49 ngày sau khi mất. Cách tính 49 ngày cho người mất có nguồn gốc ra sao? Lễ cúng 49 ngày (theo tiếng Hán – Việt là chung thất) là 1 tín ngưỡng lâu đời của nước ta. Đây được xem là buổi lễ cúng giỗ mở đầu sau khi người mất đã qua đời được 49 ngày. Theo Wikipedia – bách khoa toàn thư lớn nhất tại Việt Nam: Phong tục trên được người Việt tính toán dựa theo thuyết nhà Phật ( âm hồn người đã mất khi qua đời phải trải qua 7 lần phán xét, mỗi một lần phán xét kéo dài 7 ngày, rồi sau đó đi qua 1 điện lớn ở âm ti. Sau 7 tuần âm hồn sẽ được siêu thoát. 49 ngày chính là quãng thời gian đưa linh hồn người chết về với cửa Phật. Bên cạnh đó, đây cũng chính là lễ cúng quan trọng đối với người Việt nhằm bày tỏ lòng thánh kính, thương xót, cũng như tưởng nhớ đối với người đã khuất. Lễ 49 ngày được tính từ ngày chôn hay ngày mất? Lễ cúng 49 ngày là một tín ngưỡng của người Việt, đây chính là buổi lễ cúng giỗ vô cùng quan trọng mà người còn sống dành cho người đã khuất. Lễ cúng diễn ra sau ngày người chết qua đời được 49 ngày. Như vậy theo quan niệm của ông bà xưa thì lễ 49 ngày sẽ bắt đầu tính từ ngày mất. Tuần 49 ngày còn được gọi là cúng “chung thất”. Lễ 49 ngày được tính theo vía của đàn ông. Một vía là 7 ngày, bảy vía tính là 49 ngày. Những người theo đạo Phật thường nhờ thầy làm lễ 49 ngày tại chùa cùng với mong ước “quy” người mất về chùa, nương nhờ nơi cửa Phật. Lễ 49 ngày sau khi mất dựa theo thuyết Phật giáo: Âm hồn sau khi đã qua đời sẽ phải trải qua 7 lần phán xét, mỗi một lần kéo dài 7 ngày. Sau đó linh hồn phải đi qua một điện lớn ở âm ty, sau 7 tuần vong hồn mới có thể được siêu thoát. Ý nghĩa của lễ cúng 49 ngày cho người đã mất 49 ngày tính từ ngày mất hay ngày chôn, ý nghĩa là gì? Theo kinh Phật thì người chết sau 49 ngày, thì vong linh của người đã khuất, tùy nghiệp mà thọ sanh chiêu cảm quả báo. Nếu hiện lúc còn sống làm nhiều điều tốt đẹp thì về cảnh giới an lành. Ngược lại, làm nhiều điều sai trái thì thọ sẽ phải sanh vào cảnh khổ. Cũng vì lẽ đó, mà người theo đạo Phật thường hay cúng vào ngày chung thất. Mục đích là nhờ sức mạnh của Phật Pháp mà hương linh thác sanh về nơi cảnh lành. Làm lễ 49 ngày có nghĩa là cầu mong vượt linh hồn của người mất vượt qua thế giới tối tăm, vãng sanh an lạc tại nơi suối vàng. Ý nghĩa của phong tục cúng 49 ngày cho người chết theo quan niệm không phải chết sẽ là hết. Tuy không còn trên cõi trần, nhưng vong hồn người ấy vẫn tồn tại và đi vào các cõi nghiệp nhân tương ứng mà khi còn sống người đó đã gieo tạo nên. Cúng 49 ngày không chỉ có ý nghĩa thể hiện tình cảm thương tiếc & tưởng nhớ đến người chết mà còn có ý nghĩa nhắc nhở những người quá cố hướng tâm về cái thiện để được tái sinh về nơi cực lạc. Lễ cúng 49 ngày là việc tạo công đức cho người đã khuất, đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa lớn đối với người đã khuất, sớm được về cảnh giới an lành và tốt đẹp. Một số điều cần lưu ý trong lễ cúng 49 ngày Bên cạnh biết 49 ngày tính từ ngày mất hay ngày chôn thì các bạn cũng cần lưu ý một số điều để vong hồn người mất nhanh siêu thoát. Trong 49 ngày, tang gia không nên sát sanh để làm lễ cúng tế. Làm vậy người mất sẽ không được siêu thoát mà còn thêm tội. Tốt nhất nên ăn chay, cầu nguyện để giúp người mất nhanh siêu thoát. Sắm lễ cúng 49 ngày cũng kỵ việc sát...
06/05/2023
Đọc thêm »Một Số Mẫu Nhà Vàng Mã Dùng Cúng 49 Ngày, Cúng 100 Ngày Hoặc Cúng Giỗ Hiện nay với đời sống ngày càng phát triển, nhu cầu đốt vàng mã cũng ngày một tăng đồng thời cũng có những yêu cầu cao hơn về vàng mã, không còn đơn giản như xưa. Đốt Vàng Mã là tục lệ từ rất lâu đời, Đốt vàng mã còn thể hiện sự tôn kính, sự báo hiếu của con cháu với các bậc Tổ Tiên, Ông Bà. Ngoài những món Vàng Mã đốt như quần áo vàng mã, trang sức vàng mã, tivi vàng mã, điện thoại vàng mã... thì cón có nhà giấy vàng mã, biệt thự vàng mã. Và trong bài viết này Dịch Vụ Tâm Linh xin giới thiệu tới Qúy Anh Chị, Cô Bác một số mãu nhà giấy, biệt thự vàng mã dùng để cúng thông dụng: 1/ Mẫu nhà biệt thự sân rộng Mẫu nhà biệt thự sân rộng Mẫu nhà biệt thự sân rộng 2/ Mẫu nhà biệt tự có hồ bơi, hồ cá coi, sân vườn Mẫu nhà biệt tự có hồ bơi, hồ cá coi, sân vườn Mẫu nhà biệt tự có hồ bơi, hồ cá coi, sân vườn Mẫu nhà phố đẹp Mẫu nhà phố đẹp Mẫu nhà phố đẹp Mẫu nhà phố đẹp Mẫu nhà phố đẹp
06/05/2023
Đọc thêm »Hiện nay với đời sống ngày càng phát triển, nhu cầu đốt vàng mã cũng ngày một tăng đồng thời cũng có những yêu cầu cao hơn về vàng mã, không còn đơn giản như xưa. Đốt Vàng Mã là tục lệ từ rất lâu đời, Đốt vàng mã còn thể hiện sự tôn kính, sự báo hiếu của con cháu với các bậc Tổ Tiên, Ông Bà. Ngoài những món Vàng Mã đốt như quần áo vàng mã, trang sức vàng mã, tivi vàng mã, điện thoại vàng mã... thì cón có nhà giấy vàng mã, biệt thự vàng mã. Và trong bài viết này Dịch Vụ Tâm Linh xin giới thiệu tới Qúy Anh Chị, Cô Bác một số mãu nhà giấy, biệt thự vàng mã cao cấp đặt hàng. 1/ Mẫu nhà mái đỏ Mẫu nhà mài đỏ 2/ Mẫu nhà mái trắng ánh Mẫu nhà mái trắng ánh 3/ Mẫu nhà mái xanh
06/05/2023
Đọc thêm »